KỶ NIỆM 43 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2018)!
học tập theo Bác

Triển khai thi hành Luật trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Thứ ba - 03/04/2018 03:04
Sự ra đời của Luật trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2017 đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế công tác TGPL nói riêng và triển khai Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nói chung. Qua đó tiếp tục khẳng định TGPL là một yếu tố quan trọng trong hệ thống tư pháp hình sự, là trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân cho đối tượng được TGPL.
Trung tâm Trợ giúp pháp lý tổ chức buổi tập huấn công tác Trợ giúp pháp lý tại xã Nam Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang
Trung tâm Trợ giúp pháp lý tổ chức buổi tập huấn công tác Trợ giúp pháp lý tại xã Nam Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang
Một số điểm mới của Luật trợ giúp pháp lý năm 2017
Luật TGPL số 11/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 và thay thế Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 sẽ mở ra một giai đoạn mới cho công tác TGPL với nhiều nội dung mới nổi bật.  Luật TGPL được xây dựng xuất phát từ tinh thần lấy người được TGPL làm trung tâm nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL theo hướng chuyên nghiệp hóa, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội nhằm cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý cho người yếu thế không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý và những người thuộc diện chính sách. Luật TGPL được bố cục thành 8 chương, 48 điều quy định về người được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL, hoạt động TGPL và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động TGPL
-  Luật đã khẳng định rõ nét hơn trách nhiệm của Nhà nước trong công tác TGPL và có sự phân biệt hoạt động này với dịch vụ pháp lý thiện nguyện của các tổ chức xã hội
        Luật TGPL năm 2006 đã quy định TGPL là trách nhiệm của Nhà nước. Bên cạnh đó, trong các Bộ luật, Luật về tố tụng mới được Quốc hội ban hành thời gian gần đây cũng đã ghi nhận, khẳng định vấn đề này (như khoản 3 Điều 19 Luật Tố tụng hành chính; khoản 3 Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự). Tuy nhiên đến các quy định của Luật TGPL năm 2017 đã làm rõ nét hơn nội dung TGPL là trách nhiệm của Nhà nước với những nội dung cụ thể như sau:       
Luật có 01 điều quy định về vấn đề này với tiêu đề "Chính sách của Nhà nước về trợ giúp pháp lý" (Điều 4), thể hiện rõ hơn so với tên điều "Chính sách trợ giúp pháp lý" quy định Điều 6 Luật TGPL năm 2006. Nội dung Điều 4 đã làm rõ vai trò của Nhà nước, qua đó bảo đảm được bản chất, mục tiêu đặt ra trong công tác này. Tại khoản 1 Điều 4 đã khẳng định một lần nữa "TGPL là trách nhiệm của Nhà nước", do đó với tư cách là một trong những phương thức để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đòi hỏi Nhà nước có các chính sách để bảo đảm quyền được TGPL nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp cận pháp luật ngày càng cao của người dân. Trong việc cung cấp dịch vụ đó phải đặt vấn đề chất lượng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, do đó Nhà nước cần có chính sách để nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL.
Bên cạnh đó, trách nhiệm của Nhà nước còn thể hiện ở chỗ có chính sách thu hút các nguồn lực thực hiện TGPL và hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, công tác TGPL để khích lệ sự tham gia nhiều hơn nữa của các lực lượng xã hội đối với hoạt động TGPL. Bằng các quy định cụ thể trong Luật đã tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia thực hiện TGPL và các chủ thể này khi ký hợp đồng thực hiện TGPL được Nhà nước chi trả thù lao thực hiện vụ việc.
So với Luật TGPL năm 2006, Luật TGPL năm 2017 đã bổ sung 01 Điều (Điều 5) quy định về nguồn tài chính cho công tác TGPL, theo đó bao gồm nguồn ngân sách nhà nước; đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác. Nhà nước bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về TGPL theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Đồng thời, đối với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách, Luật quy định việc ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách hằng năm để hỗ trợ cho việc thực hiện vụ việc TGPL phức tạp, điển hình. Đây là điểm mới quan trọng so với Luật TGPL năm 2006, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cho người thuộc diện TGPL được giúp đỡ pháp lý khi họ có các vụ việc TGPL cụ thể, đồng thời nhằm khắc phục phục phần nào tình trạng bỏ sót nhu cầu TGPL của người dân, qua đó thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền được TGPL được thực thi trên thực tế.
Một vấn đề nữa là, ở nước ta chưa có cách hiểu rõ ràng về TGPL (tiếng Anh là từ legal aid) và dịch vụ pháp lý miễn phí, thiện nguyện (tiếng Anh là từ probono); về trách nhiệm của Nhà nước đối với dịch vụ TGPL. Do đó, các quy định của pháp luật hiện hành về TGPL và dịch vụ pháp lý thiện nguyện của luật sư, các tổ chức xã hội chưa phân định cụ thể giữa hai dịch vụ này, dẫn đến trong thực tế việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất, hạn chế hiệu quả quản lý, kết quả, chất lượng dịch vụ. 
Luật TGPL năm 2017 cũng đưa ra khái niệm TGPL đi vào bản chất của dịch vụ, cụ thể tại Điều 2: "TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật". Với khái niệm này, TGPL được nêu lên với bản chất và đặc điểm sau: (1) TGPL là cung cấp vụ việc, (2) mục đích trực tiếp là bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Cùng với quy định tại khoản 1 Điều 30 đã nêu rõ yêu cầu TGPL chỉ được thụ lý khi có vụ việc cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, điều này sẽ dần đưa hoạt động TGPL đi đúng bản chất là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí trong các vụ việc cụ thể như khái niệm nêu tại Điều 2.  
Như vậy, với những quy định khẳng định rõ nét vai trò của Nhà nước trong công tác TGPL và khái niệm TGPL như đã nêu trên đã có sự phân biệt giữa TGPL và dịch vụ pháp lý thiện nguyện của các cá nhân, tổ chức xã hội. Hoạt động TGPL cần tuân theo các quy định của Luật này về đối tượng, tổ chức và người thực hiện, hình thức, lĩnh vực TGPL… và là trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho những người thuộc diện được TGPL. Việc cung cấp dịch vụ pháp lý thiện nguyện của xã hội (theo Luật Luật sư, Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.   
- Mở rộng diện người được TGPL theo các nguyên tắc, tiêu chí cụ thể, phù hợp với bản chất của TGPL và điều kiện đặc thù của đất nước 
Đây là vấn đề được quan tâm và thảo luận nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật TGPL năm 2017. Qua nhiều lần thảo luận và ý kiến góp ý của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, Quốc hội đã thống nhất việc xác định diện người được TGPL cần phải dựa trên những nguyên tắc, tiêu chí cụ thể, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật hiện hành và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Theo đó, việc quy định người được TGPL dựa trên 02 nguyên tắc, tiêu chí sau đây:   
Một là, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng; chính sách dân tộc; chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội, chính sách chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Đây là những đặc thù của Việt Nam trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội.                           
Hai là, trợ giúp đối với một số nhóm đối tượng yếu thế nhất trong xã hội có khó khăn về tài chính, không đủ khả năng chi trả thù lao cho luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý. Đây là bản chất của hoạt động TGPL đã được nhiều nước công nhận trên thế giới.
So với Luật TGPL năm 2006 chỉ quy định 06 diện người được TGPL thì trong bối cảnh kinh tế - xã hội mới của đất nước, tại Điều 7 của Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng với 14 diện người được TGPL, thậm chí có diện người kế thừa từ Luật TGPL năm 2006 cũng được phát triển hơn, cụ thể như sau:
+ Nhóm người được kế thừa hoàn toàn từ Luật TGPL năm 2006 gồm 02 diện là: (1) Người có công với cách mạng (khoản 1); (2) Người thuộc hộ nghèo (khoản 2).  
+ Nhóm người được kế thừa và mở rộng từ Luật TGPL năm 2006 gồm 02 diện là: (1) Trẻ em (khoản 3, được mở rộng từ trẻ em không nơi nương tựa); (2) Người dân tộc thiểu số cư trú tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (khoản 4, được mở rộng từ người dân tộc thiểu số thường trú tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).        
Nhóm người được bổ sung mới gồm 02 diện là: (1) Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (khoản 5, hiện nay đang thuộc trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự); (2) Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo.      
Nhóm người áp dụng điều kiện có khó khăn về tài chính đối với 08 diện tại khoản 6 là: (1) Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; (2) người nhiễm chất độc da cam; (3) người cao tuổi; (4) người khuyết tật; (5) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; (6) nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; (7) nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; (8) người nhiễm HIV để cung cấp cho những người thực sự có nhu cầu nhưng không có khả năng tài chính để thuê dịch vụ pháp lý. Điều kiện khó khăn về tài chính sẽ được quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật TGPL. Như vậy, đối với nhóm người này phải đáp ứng hai điều kiện: Có khó khăn về tài chính theo hướng dẫn của Chính phủ và thuộc một trong tám diện người nêu trên.             
Có thể thấy việc mở rộng diện đối tượng TGPL nêu trên đã thể hiện rõ nét chính sách nhân văn, sự quan tâm toàn diện của Đảng và Nhà nước đối với các đối tượng chính sách và đối tượng yếu thế. Khi đáp ứng được đầy đủ, chất lượng nhu cầu TGPL của các diện người được quy định trong Luật cũng sẽ góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Thực hiện Quyết định số 1355/QĐ-TTg ngày 12/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật trợ giúp pháp lý. Để công tác tuyên truyền, phổ biến triển khai được kịp thời, thống nhất và có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, ngày 15/3/2018 UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật TGPL trên địa bàn tỉnh.
Tải Luật trợ giúp pháp lý
Tải kế hoạch 49
Nguyễn Thị Thanh Trúc
Phó Chánh Văn phòng Sở GDĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

LIÊN KẾT WEBSITE
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang truy cập24
  • Hôm nay822
  • Tháng hiện tại28,378
  • Tổng lượt truy cập989,743
tuyensinh800
tuyendung2
tuyen sinh lop 10 1
tin hoc tre 1
 
images
QUẢNG CÁO
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây